19/03/2026
CASE PHÁT SINH THỰC TẾ
CBTT TRÁI PHIẾU DOANH NGHIỆP PHÁT HÀNH RIÊNG LẺ CÒN DƯ NỢ
Quy định mới nhất về CBTT được thực hiện theo quy định tại Thông tư 76/2024, theo đó: Khoản 4 Điều 2: “Doanh nghiệp phát hành trái phiếu thực hiện CBTT định kỳ 6 tháng và hàng năm theo quy định tại Điều 21 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP, khoản 16 Điều 1 Nghị định số 65/2022/NĐ-CP và theo mẫu tại Phụ lục III ban hành kèm theo Thông tư này”
Thứ nhất: Khoản 2 Điều 21 Nghị định 153/2020/NĐ-CP: Việc báo cáo và CBTT gồm: ......c) Báo cáo tình hình sử dụng nguồn vốn từ phát hành trái phiếu.
Thứ hai, Khoản 16 điều 1 Nghị định số 65/2022/NĐ-CP: Sửa đổi, bổ sung khoản 2 Điều 21 (Tức Điều 21 của NĐ 153/2020 phía trên) như sau:
“2. Nội dung công bố thông tin thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính và bao gồm các tài liệu sau: c) Báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm về tình hình sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu đối với trái phiếu còn dư nợ được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện.”
Vậy theo quy định mới, (NĐ 65 sửa đổi NĐ 153), phải: Doanh nghiệp phải báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm về tình hình sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu đối với trái phiếu còn dư nợ được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện.
Ngoài ra, xét thêm điều khoản thi hành để áp dụng luật, thì:
Một là, Nghị định 153/2020/NĐ-CP: Điều 44. Điều khoản chuyển tiếp
2. Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành:
a) Tiếp tục thực hiện theo quy định tại Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2018 của Chính phủ về phát hành trái phiếu doanh nghiệp và NĐ số 81/2020/NĐ-CP ngày 09 tháng 7 năm 2020 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2018/NĐ-CP ngày 04 tháng 12 năm 2018 quy định về phát hành trái phiếu doanh nghiệp cho đến khi trái phiếu đáo hạn, ngoại trừ chế độ báo cáo, công bố thông tin định kỳ theo quy định tại điểm b khoản này.
b) Chế độ báo cáo, công bố thông tin định kỳ thực hiện theo quy định tại Nghị định này cho đến khi trái phiếu đáo hạn.
(Tức, các nội dung khác liên quan đến trái phiếu của doanh nghiệp thì tiếp tục như cũ (163/2018). Riêng, chế độ báo cáo, CBTT thì phải theo 153/2020 cho đến khi đáo hạn)
Hai là, Nghị Định 65 - Điều 3. Điều khoản chuyển tiếp
3. Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước khi Nghị định này có hiệu lực thi hành và còn dư nợ đến thời điểm Nghị định này có hiệu lực thi hành:
a) Thực hiện chế độ báo cáo, công bố thông tin định kỳ, công bố thông tin bất thường theo quy định tại Nghị định này và hướng dẫn của Bộ Tài chính.
b) Doanh nghiệp không được thay đổi kỳ hạn của trái phiếu đã phát hành.
c) Về giao dịch trái phiếu: Đối với trái phiếu doanh nghiệp đã phát hành trước khi Nghị định số 153/2020/NĐ-CP có hiệu lực thi hành và còn dư nợ thì tiếp tục lưu ký, giao dịch trái phiếu theo phương án phát hành trái phiếu đã được phê duyệt, chấp thuận. Tổ chức đăng ký, lưu ký trái phiếu có trách nhiệm tiếp tục thực hiện chế độ báo cáo theo quy định tại Điều 33 Nghị định số 153/2020/NĐ-CP cho đến khi trái phiếu đáo hạn.
Ba là, kết hợp điều khoản thi hành Điều 17.(2) Thông tư 76/2024::
2. Trường hợp các VB QPPL được dẫn chiếu để áp dụng tại Thông tư này được sửa đổi, bổ sung, thay thế thì sẽ áp dụng theo các văn bản sửa đổi, bổ sung thay thế đó.
Theo đó, dẫn chiếu quy định tại điều 21 Nghị định 153 đã được sửa đổi, bổ sung thay thế bởi khoản 16 Nghị định Nghị định số 65/2022/NĐ-CP, thì thực hiện theo khoản 16 Điều 1 Nghị định 165. Tức, doanh nghiệp phải: “Báo cáo định kỳ 6 tháng, hàng năm về tình hình sử dụng số tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu đối với trái phiếu còn dư nợ được kiểm toán bởi tổ chức kiểm toán đủ điều kiện”.